Chiến thắng Buôn Ma Thuột – chiến thắng của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

0
621

Người Trung Quốc tự hào vì họ có Lưu Bang cùng mưu sĩ Hàn Tín với “đối sách Hán Trung”. Hàn Tín hiến cho Lưu Bang kế sách “minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương”. Điều Phàn Khoái đi tu sửa con đường sạn đạo, đây vốn là đường độc đạo nối Hán Trung thông tam Tần, cho quân Hán vờ phô trương thanh thế như thể sẽ tiến binh qua đường sạn đạo.

Tướng Chương Hàm, Tư Mã Hân, Đổng Ế đã trúng kế khi mang đại quân chốt giữ đường sạn đạo. Hàn Tín bất ngờ điều bình lực đi tắt, đánh úp Trần Thương. Chương Hàm bại trận, Hàn Tín thông tam xuyên bình định Tam Tần. Chiến thắng này là tiền đề, là cơ sở vững chắc để sau này quân Hán đánh bại toàn bộ tập đoàn Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ để thống nhất Trung Quốc, lập nên Triều đại nhà Hán hơn 400 năm.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: “Ai làm chủ được Tây Nguyên thì làm chủ được Đông Dương”. Trong một lần triệu tập Thượng tướng Hoàng Minh Thảo ra Hà Nội tham khảo ý kiến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu câu hỏi: “Nếu đánh Tây Nguyên thì đánh ở đâu trước?”. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trả lời: “Đánh Tây Nguyên thì đánh vào Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, là hậu cứ của địch, là nơi địch yếu mà là hiểm yếu. Buôn Ma Thuột là địa bàn chiến lược cơ động, từ đây ta có thể phát triển theo ba hướng: Đánh lên bắc Tây Nguyên, xuống đồng bằng ven biển, vào miền Đông Nam Bộ, cắt chiến trường miền Nam ra làm đôi”. “Nguyên tắc chọn hướng tấn công chủ yếu là chọn nơi địch yếu mà là hiểm yếu”.

Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đi một “nước cờ thần tình”: Cắm hai quân đoàn ở hai đầu (Quân đoàn 4 ở Đồng Nai, Quân đoàn 2 ở Huế) buộc địch phải điều tổng dự bị chiến lược của chúng là hai sư đoàn dù và lính thủy đánh bộ ra hai đầu để giữ hai khu vực chiến lược quan trọng là Huế và Sài Gòn, làm cho thế trận phòng ngự của địch bị căng ra hai đầu, để hở quãng giữa là Tây Nguyên. Đây là kế “điều địch”, làm suy yếu Quân VNCH ở Tây Nguyên. Tăng thêm lực lượng cho Mặt trận Tây Nguyên, điều Sư đoàn 316 từ Bắc vào và Sư đoàn 968 từ Lào sang. Tây Nguyên bước vào chiến dịch, có lực lượng tới 4 sư đoàn và một số trung đoàn độc lập, lại có sự phối hợp của Sư đoàn 3 Sao Vàng thuộc Quân khu 5 và Binh đoàn 559 Trường Sơn. Tây Nguyên trở thành một quân đoàn mạnh. Địch phải chia quân, trong khi chúng ta lại được tăng cường lực lượng.

“Mưu cao nhất là mưu lừa địch – Kế hay nhất là kế điều địch – Mưu sinh ra kế – Kế đẻ ra thời – Đánh bằng mưu kế – Thắng bằng thế thời” (Trích: Chiến đấu ở Tây Nguyên – Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, NXB QĐND, tr.191).

Khi điều kiện và thời cơ đã chín muồi; chúng ta đã lừa được địch, mưu cao nhất đã thành; kế hay nhất là điều địch đạt; quân ngụy Sài Gòn ở vùng II chiến thuật đã phân tán lực lượng để bảo vệ Kon Tum và Pleiku; ta đã nắm chắc cả thời và thế trong tay. Bằng liên hoàn kế: Điệu hổ li sơn, nghi binh dương đông kích tây khiến Phạm Văn Phú không xác định được nơi nào mới là chiến trường chính. Ta đã bước vào trận đánh quyết định để giành lại yết hầu cao nguyên Trung phần một cách rất tài tình; ít hao binh tổn tướng mà hiệu quả vượt cả mong đợi.

Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu bằng một loạt hoạt động cài thế bao vây, chia cắt, cô lập Buôn Ma Thuột. Ta dùng mưu tăng cường hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của địch về phía bắc (Kon Tum), đánh trận “giả” ở Pleiku. Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, VNCH mắc mưu, Phú vội điều ngay Trung đoàn 45, đơn vị mạnh của Sư đoàn 23 ngụy từ Buôn Ma Thuột lên Pleiku, để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột. Phạm Văn Phú giống Chương Hàm khi xưa, đi sai nước cờ này và thất bại là điều tất yếu.

Hai giờ sáng ngày 10-3-1975, ta nổ súng đánh Buôn Ma Thuột. Trung đoàn Đặc công 198 và pháo phản lực (DKB, H12, rốc-két) bắn vào sân bay và khu kho Mai Hắc Đế. Công binh cho đổ các cây cưa sẵn. Xe tăng, xe bọc thép bật đèn sáng trong đêm mở hết tốc lực tiến vào thành phố, đột phá, thọc sâu, vu hồi, trút bão lửa khiến địch không kịp trở tay. Vũ Thế Quang, đại tá, Sư phó Sư đoàn 23 ngụy; Nguyễn Trọng Luật, đại tá, Chỉ huy trưởng Tiểu khu Đắc Lắc phải bỏ Sở chỉ huy tháo chạy. Giặc tập hợp lại lực lượng, tăng quân hòng tái chiếm Buôn Ma Thuột, nhưng chúng không biết rằng ta đã giăng thiên la, địa võng đón chúng.

Trong hai ngày 12 và 13-3-1975, địch đổ quân xuống đông Buôn Ma Thuột, Phước An và tây sân bay Hòa Bình. Địch sa ngay vào các bẫy ta giăng sẵn. Các trung đoàn 44, 45, Sở chỉ huy của Sư đoàn 23 ngụy lần lượt bị tiêu diệt. Cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột bị đập tan.

Sai lầm nối tiếp sai lầm. Ngày 14-3-1975, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu họp với Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên, các tướng Đặng Văn Quang, Phạm Văn Phú ở Cam Ranh, quyết định triệt thoái cao nguyên để bảo toàn lực lượng và phòng thủ đồng bằng, thực hiện rút lui chiến lược, co cụm chiến lược.

Hành động này của Thiệu đã dẫn đến việc khai tử Quân đoàn 2 của Ngụy. Ý đồ của địch nhanh chóng bị ta phát hiện; quân ta với ý chí quyết thắng vượt lên trên sức lực của mỗi người, lập tức truy kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy trên đường số 7 (nay là Quốc lộ 25 từ Gia Lai đi Phú Yên). Con đường đã bị bỏ từ lâu, cầu hỏng, phà qua sông không có, hàng trăm xe, pháo của địch ùn tắc. Quân địch bỏ xe tháo chạy. Ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ cánh quân địch rút lui, thu hàng trăm xe pháo các loại. Kon Tum, Pleiku không đánh mà được giải phóng. Phạm Văn Phú uất ức đến độ phải uống thuốc độc tự sát.

Nghệ thuật nghi binh, tạo thế và cài thế trong chiến dịch Tây Nguyên của tướng Hoàng Minh Thảo cổ kim ít tai bì kịp, cho dù Hàn Tín tái sinh cũng khó có thể sánh bằng! Thắng lợi ở Tây nguyên, nghĩa là ta đã làm chủ hoàn toàn vị trí chiến lược, địa bàn trọng yếu, là điểm tựa vững chắc để đại quân ta triển khai các chiến dịch lớn mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.

Dương Vương Kinh