Bức thư không hủy

0
375

Người vợ quyết định nói với chồng :

– “Anh ơi, nếu vợ chồng mình không đưa anh bộ đội này vào căn cứ tìm đơn vị để trao lại cho đơn vị chạy chữa thuốc men cho anh ấy, chắc anh ấy chết mất”.

Vậy là trong đêm, thông qua liên lạc, hai vợ chồng đã cõng tôi ngược lên rừng, vào căn cứ và tìm gặp được một đơn vị bộ đội và trao tôi cho đơn vị đó.

Thật ra, lúc đó, tôi gần như mê man bất tỉnh, cũng chẳng nhớ được gì. Chỉ biết rằng hai vợ chồng tên là Trí, Dục, ở xã Hải Vịnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Tôi được ra Bắc điều trị lành vết thương, rồi về công tác ở huyện nhà. Sau khi đất nước giải phóng, tôi tìm mọi cách để liên lạc với hai vợ chồng mà lúc bấy giờ tôi chỉ nhớ mang máng rằng nếu chồng tên Trí thì vợ tên Dục, vợ tên Trí thì chồng tên Dục ở xã Hải Vịnh hoặc xã Hải Thành, Hải Lăng, Quảng Trị.

Tôi đã gửi bức thư thứ nhất ngay sau năm 1975 kể lại toàn bộ câu chuyện trên với mong muốn được tìm lại ân nhân của mình ngoài phong bì ghi địa chỉ như vậy.

Trong suốt 10 năm liền, tôi tiếp tục gửi thư mà không hề có một hồi âm nào. Chiến tranh loạn lạc, niềm hy vọng của tôi mỗi ngày một mờ dần. Với lại sau chiến tranh, tình hình kinh tế quá khó khăn, tôi cũng không có dịp nào để trở lại Hải Lăng tìm ân nhân của mình.

Ảnh minh họa.

Ở Bưu điện Hải Lăng, cứ những bức thư không có người nhận, không có địa chỉ rõ ràng, theo quy định đến một thời gian nhất định nào đó thì bưu điện sẻ huỷ.

Anh Thông, cán bộ bưu tá của huyện là người thực hiện nhiệm vụ huỷ các thư vô chủ. Trước khi huỷ thư, anh đã cẩn thận mở ra tất cả các lá thư và đọc lại một lượt để có thể tìm được dấu tích của người nhận thì giúp đỡ họ.

Vốn là một người có trách nhiệm, có tâm với nghề, nên khi đọc đến bức thư của tôi, anh Thông đã lặng người chảy nước mắt vì xúc động.

Anh quyết định giữ lại bức thư của tôi và đích thân xuống hai xã Hải Vịnh, Hải Thành, Quảng Trị để âm thầm giúp tôi tìm ân nhân là vợ chồng Trí và Dục.

Không biết bao nhiêu lần, anh Thông đã đạp xe đến mòn chân nhưng lạ thay không một ai ở 2 xã đó biết hai vợ chồng có tên Trí và Dục.

Quá thất vọng, anh Thông đã không tiến hành việc tìm kiếm nữa. Nhưng, không hiểu sao, anh vẫn không quyết định huỷ những bức thư của tôi.

Một lần nữa bức thư đã nằm ở Bưu điện 10 năm, nằm thêm ở nhà anh Thông 10 năm nữa. Những ám ảnh về câu chuyện xúc động cứ theo suốt anh Thông trong 10 năm ấy.

Một hôm, đến xã Hải Vịnh công tác, anh Thông gặp một người già nhất ở xã, và tự nhiên anh tâm sự với cụ chuyện hơn 10 năm nay anh giữ bức thư của một người tên Huyên ở Thanh Hoá tìm ân nhân của mình mà anh ta chỉ nhớ được mỗi tên chồng là Trí thì vợ là Dục, chồng là Dục thì vợ là Trí ở xã Hải Thành hoặc Hải Vịnh.

Thật vô cùng may mắn khi ông già đập trán nhớ ngay ra.

– “Đúng rồi, thằng Trí Tiện chứ còn ai vào đấy nữa. Mày hỏi thằng Trí mà bảo vợ nó tên Dục thì người ta không biết là phải thôi”.

Ngay sau đó ông già đưa anh Thông tới nhà ông Trí Tiện.

Thật lạ lùng, đúng vào lúc đó gia đình nhà ông Trí Tiện đang làm ngày kỵ cho người vợ quá cố tên là Dục.

Sau khi nghe anh Thông kể rõ ngọn ngành câu chuyện, ông Trí quỳ sụp trước am thờ và vái lia lịa.

Thì ra, đây là cái am thờ vợ chồng ông Trí đã thờ anh bộ đội tên Huyên năm xưa là tôi, vợ chồng ông nuôi giấu hơn 1 tháng trong hầm bí mật tại nhà.

Khi cõng người lính bị thương nặng lên rừng tìm đơn vị trong tình trạng vết thương đã hoại tử, bốc mùi, và mê man bất tỉnh như vậy, cả hai vợ chồng ông Trí chắc chắn rằng người lính kia sẽ không thể sống nổi để ra Bắc chữa trị.

Mặc dù đã cố gắng hết sức để cứu người lính, nhưng lực bất tòng tâm nên sau đó, cả hai vợ chồng ông Trí rất day dứt, áy náy lương tâm.

Người vợ bàn với chồng về nhà lập một cái am nhỏ trước sân thờ vong linh của người lính mà họ đã nuôi giấu.

Không ngờ, chính trong đêm cõng tôi ra căn cứ, cả hai vợ chồng ông đã bị địch phục kích, ông Trí chạy thoát, còn bà Dục bị địch bắt.

Lúc này, bà Dục vừa mới chớm có thai đứa con đầu lòng.

Số phận thật bi thảm, bà Dục sau này sinh con ở trong nhà tù và cả hai mẹ con đều bị chết vì băng huyết.

Sau khi chờ đợi mỏi mòn người vợ bị địch bắt, ông Trí nhận được tin dữ cả hai mẹ con đã hy sinh trong tù.

Ông Trí rất đau khổ.

Ông lập hai chiếc bàn thờ, một ở trong nhà thờ vợ, một để ở ngoài thờ tôi, người lính năm xưa.

Từ bấy đến nay, đã 20 năm ròng rã, không có lúc nào, ông Trí không thắp hương cho linh hồn tôi nơi cái am thờ này.

Mấy năm gần đây, có điều kiện, ông đã xây lại cái am thờ đàng hoàng, ghi tên thờ liệt sỹ tên Huyên.

Trong thâm tâm của ông Trí, tôi không thể nào sống nổi, chắc chắn tôi đã chết vì vết thương quá nặng.

Ông Trí có ngờ đâu, suốt 20 năm qua, tôi, người lính bị thương nặng năm xưa lúc nào cũng đau đáu một nỗi hoài mong tìm gặp lại được cặp vợ chồng ân nhân của mình.

Chúng tôi đã có cuộc hội ngộ trùng phùng đẫm nước mắt qua sự liên lạc của anh Thông bưu điện xã.

Tôi và con trai tôi đã vào nhà ông Trí để thắp hương cho bà Dục vì cứu tôi, vì cách mạng mà hy sinh.

Tôi và con trai đã ở lại Hải Vịnh trong một tháng để hàn huyên tâm sự. Sau đó, cha con ông Trí cũng đã ra nhà tôi chơi. Chúng tôi kết nghĩa anh em từ đó.

Tôi là thương binh nặng, nên sức khoẻ yếu, năm nào tôi cũng muốn vào Quảng Trị thắp hương cho đồng đội và đến nhà ân nhân của tôi nhưng sức khoẻ không cho phép.

Trong lòng tôi luôn hướng về Hải Lăng, Quảng Trị, nơi cất giấu những năm tháng khốc liệt của đời lính, và cũng là nơi tôi được cứu sống, được sinh ra thêm một lần nữa trong đời.

(Tâm sự của một cựu chiến binh được tổng hợp từ FB Chiến Nguyễn)

KHN