Biển Đông trong chiến lược “Toàn cầu hóa kiểu Trung Quốc” – Kỳ 3

0
448

“QUẢ BOM NỔ CHẬM” DO ĐẶNG TIỂU BÌNH “CÀI LẠI” VÀ NHỮNG THAY ĐỔI CẦN CÓ TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA BẮC KINH

Thất bại trong cuộc “Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất” (1839-1842), ngày 29-8-1842, dưới những nòng súng đại bác từ các chiến hạm của Hải quân Anh đang nhằm vào thành phố, trên soái hạm HMS Cornwallis, chính quyền Mãn Thanh của Trung Quốc buộc phải ký kết Hiệp ước Nam Kinh; một hiệp ước bất bình đẳng đầu tiên giữa người Anh và người Trung Quốc. Theo hiệp ước này, Trung Quốc phải nhượng đảo Hồng Công cho người Anh làm thuộc địa.

Đến cuộc “Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai” (1856-1860), quân đội nhà Thanh một lần nữa lại thất bại trước liên quân Anh-Pháp. Và cũng như lần trước cách đó 12 năm, người Trung Quốc lại buộc phải ký kết Điều ước Thiên Tân; theo đó, Trung Quốc lại tiếp tục phải nhượng bán đảo Cửu Long (Kowloon) làm thuộc địa của nước Anh.

Ngày 9-6-1898, Anh quốc và chính phủ Mãn Thanh ký kết điều ước “Mở rộng địa giới Hồng Công” tại Bắc Kinh. Theo đó, nước Anh được thuê vùng nhượng địa từ phía Bắc đường giới tuyến Cửu Long đến bờ Nam sông Thâm Quyến, kèm theo 233 hòn đảo lân cận với kỳ hạn cho thuê là 99 năm.

Chính sự sửa đổi này đã đem lại cơ hội cho Trung Quốc thu hồi lại Hồng Công vào năm 1997. Tuy nhiên, không phải cứ đến kỳ hạn thì các nước đế quốc thực dân mặc nhiên thực hiện các nghĩa vụ. Vả lại, có nước thực dân đế quốc nào lại thật thà thực hiện đúng nghĩa vụ mà nó cam kết kia chứ ?

Tuy buộc phải trả lại khu thuộc địa béo bở này cho Trung Quốc nhưng người Anh đã đặt ra nhiều điều kiện rất ngặt nghèo buộc Trung Quốc phải đáp ứng nếu như không muốn gánh chịu những khoản “bồi thường” khổng lồ cho nước Anh. Cuối cùng, bản “Tuyên bố chung Trung-Anh” được ký kết ngày 19-12-1984 giữa Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương và Thủ tướng Anh Quốc Margaret Thatcher.

Theo Tuyên bố này, Trung Quốc chính thức thu hồi chủ quyền của mình tại Hồng Công bắt đầu từ ngày 1-7-1997. Và cũng theo văn kiện này, Trung Quốc chấp nhận để Hồng Công hòa nhập xã hội vào Trung Quốc theo nguyên tắc “một quốc gia, hai chế độ” (nhất quốc lưỡng chế) để hình thành nên “Đặc khu hành chính Hồng Công” thuộc Trung Quốc.

Ngay tại Điều 5, Chương 1 của “Luật Cơ bản Hồng Công”, một văn kiện pháp lý có tính hiến chế được “Nhân Đại” Trung Quốc thông qua ngày 4-4-1990, đã ghi rõ: “Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa không được thi hành tại Đặc khu hành chính Hồng Công. Hệ thống chính trị và xã hội tư bản chủ nghĩa trước đây vẫn không thay đổi trong 50 năm, tính từ ngày 1-7-1997”.

Điều đó có nghĩa là về chính trị, Hồng Công có bộ máy chính quyền riêng theo mô hình tổ chức chính trị tư bản. Các đảng phái chính trị xã hội được tự do hoạt động với điều kiện phải đăng ký pháp danh với chính quyền Hồng Công. Đến nay, ở Hồng Công có tới 5 đảng phái chính trị và 11 tổ chức chính trị xã hội đang hoạt động, trong đó có tới 2 đảng chính trị và 6 tổ chức chính trị xã hội hoạt động bất hợp pháp.

Về lập pháp, hành pháp và tư pháp, Hồng Công có Hội đồng lập pháp riêng (LegCo), độc lập với Chính Hiệp và Nhân Đại, do dân bầu bằng phổ thông đầu phiếu; có cơ quan hành chính riêng đứng đầu là Đặc khu trưởng Hồng Công do dân bầu trực tiếp và được Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc quyết định bổ nhiệm; có bộ máy tư pháp riêng gồm cơ quan điều tra, cơ quan công tố và tòa án; có bộ máy cảnh sát riêng được phép trang bị vũ khí cá nhân

Về tài chính tiền tệ, Hồng Công cũng được độc lập hoàn toàn về tài chính và tiền tệ. Đồng Dollar Hồng Công được phép lưu hành song song với đồng Nhân dân tệ. Hồng Công không phải nộp thuế cho chính quyền trung ương Trung Quốc.

Tóm lại, Hồng Công có gần đủ các tư cách của một lãnh thổ độc lập, trừ hai lĩnh vực trọng yếu nhất là ngoại giao và quốc phòng. Cả hai lĩnh vực này đều do chính quyền trung ương Trung Quốc nắm giữ. Do đó, Hồng Công chỉ là vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc (thay vì là thuộc địa của Anh), không phải là một quốc gia độc lập.

Tác giả của nguyên tắc “Nhất quốc lưỡng chế” là Đặng Tiểu Bình (tên khai sinh là Đặng Tiên Thành, bí danh Đặng Hy Hiền). Ông ta tuy đã không còn giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (bị phế truất năm 1966) nhưng lại là Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 1982 đến năm 1987 và giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (Quân ủy Trung ương) từ năm 1981 đến năm 1989. Đây là hai chức vụ có quyền lực lớn nhất ở Trung Quốc khi đó.

Thực chất nguyên tắc “Nhất quốc lưỡng chế” không phải là một sự sáng tạo gì mới mẻ. Nó có nguồn gốc từ cái gọi là “Thuyết hội tụ xã hội” của Walt Whitman Rostow (1916-2003), nhà kinh tế học, cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống Lyndon Baines Johnson (1966-1969), tác giả của chương trình “Xã hội vĩ đại” được Lyndon B. Johnson dùng làm cương lĩnh tranh cử và thực hiện trong nhiệm kỳ tổng thống 1964-1968.

Theo quan điểm của lý thuyết này thì dù là xã hội nghĩa hay tư bản chủ nghĩa thì hai chế độ chính trị này sớm muộn cũng sẽ hòa nhập làm một. Trong kinh tế học, sự hội tụ mới chỉ được coi là một giả thuyết khoa học (giả thuyết hội tụ) nhưng giả thuyết này khi áp dụng vào bối cảnh Chiến tranh Lạnh đã trở thành “cái bẫy chính trị” với biến thể “Ngôi nhà chung Châu Âu”, góp phần làm sụp đổ Liên Xô cùng khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu; với biến thể “Chung sống hòa bình” đã làm cho Trung Quốc từ một nước xã hội chủ nghĩa trở thành một quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc trên cơ sở một nền kinh tế tư bản có sự quản lý của một thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa

Với việc đề xuất thực hiện nguyên tắc “Nhất quốc lưỡng chế”, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hy vọng sẽ mở rộng mô hình này để thu phục những vùng đất còn lại của Trung Quốc đang là nhượng địa nước ngoài cũng như vùng lãnh thổ ly khai Đài Loan.

Tuy nhiên, mô hình “nhất quốc lưỡng chế” cho đến nay chỉ thu hồi được thêm vùng lãnh thổ Macau vốn là nhượng địa của Bồ Đào Nha khi nó hết hạn 99 năm vào năm 1999. Còn Đài Loan, với sự bảo trợ của Mỹ cho dù chấp nhận là một phần của Trung Quốc theo nguyên tắc “một nước Trung Quốc” nhưng vẫn không chấp nhận mô hình Đặc khu hành chính như Hồng Công và Macau.

1- Biểu tình ở Hồng Công là việc nội bộ mà Trung Quốc phải tự giải quyết, đừng mong “chuyển lửa ra ngoài”.

Thời hạn 50 năm là đủ dài để các thế lực chống đối Bắc Kinh ở trong và ngoài nước lợi dụng mô hình “nhất quốc lưỡng chế” lỏng lẻo để nhằm duy trì và khuếch trương vị thế chính trị của Hồng Công.

Kể từ năm 2014 đến nay, tại Hồng Công đã xảy ra ít nhất ba cuộc biểu tình bạo loạn lớn một cách có tổ chức nhằm chống chính quyền. Điều đó cho thấy “Quả bom nổ chậm Hồng Công” đã phát tác ảnh hưởng tai hại của nó khi những người lãnh đạo Trung Quốc đã lựa chọn giải pháp “nhất quốc lưỡng chế” để thu hồi lãnh thổ và người dân nhưng lại vi phạm nguyên tắc “nhất thống thể chế” của bất kỳ một nhà nước nào.

Khởi đầu là cuộc biểu tình biến thành bạo loạn ngày 1-7-2012 của nhóm sinh viên “Học dân Tư triều” do Hoàng Chi Phong (tức Joshua Wong) và Chu Vĩnh Khang (tức Alex Chow) cầm đầu lấy lý do phản đối “Chương trình giáo dục đạo đức quốc dân” của Chính phủ Trung Quốc nhưng thực chất là khơi mào cho những cuộc biểu tình bạo loạn chống chính quyền trung ương Trung Quốc, đòi ly khai Hồng Công khỏi Trung Quốc.

Ngày 23-8-2012, nhóm “Học dân tư triều” được sự bảo trợ của “Liên đoàn giáo viên chuyên nghiệp” đã kêu gọi tuyệt thực để phản đối chính quyền. Ngày 7-9-2012, nhóm này đã kích động hàng nghìn sinh viên của 8 trường đại học ở Hồng Công bao vây Văn phòng đại diện của Chính phủ trung ương Trung Quốc làm hoạt động của cơ quan này bị đình trệ, buộc cảnh sát chống bạo động phải can thiệp.

Tiếp theo là phong trào “Chiếm lĩnh Trung Hoàn” (trụ sở cơ quan hành chính đặc khu Hồng Công) do Đới Diệu Đình, Trần Kiện Dân đều là giáo sư thuộc Đại học Hồng Công và linh mục Châu Diệu Minh khởi xướng năm 2014 với mục tiêu không cho người của chính quyền Trung ương được ứng cử vào vị trí Đặc khu trưởng Hồng Công. Phong trào này khởi phát ngày 1-7-2014 bằng cuộc biểu tình bao vây trụ sở Cơ quan hành chính đặc khu Hồng Công có quy mô tới 92 nghìn người.

Trong tuần ngày 22 đến ngày 27-9-2014, phong trào “Chiếm lĩnh Trung Hoàn” chỉ tổ chức các hoạt động bãi khóa và biểu tình. Từ ngày 28-9-2014, các cuộc biểu tình biến thành bạo loạn, buộc cơ quan hành chính Hồng Công phải sử dụng lực lượng cảnh sát chống bạo động để dẹp loạn. Các vụ bạo loạn lẻ tẻ còn tiếp diễn cho đến cuối tháng 10-2014.

Từ ngày 28-4-2019, một loạt các cuộc biểu tình lại nổ ra ở Hồng Công nhằm chống lại “Luật dẫn độ” (tên đầy đủ là “Dự luật 2019 Những kẻ phạm tội bỏ trốn và Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau trong Lập pháp các vấn đề Hình sự (Sửa đổi)”) do Hội đồng hành chính Hồng Công đề xuất.

Khi bà Lâm Trịnh Nguyệt Anh, Trưởng đặc khu hành chính Hồng Công tuyên bố sẽ tạm hoãn việc trình dự luật này thì những người biểu tình ở Hồng Công được sự hỗ trợ của “Mặt trận Nhân dân về Nhân quyền” (CHRF), một tổ chức chính trị Hồng Công do nước ngoài thao túng đã chuyển cuộc biểu tình thành cuộc bạo loạn chống chính quyền và kéo dài cho đến nay.

Cảnh sát chống bạo động Hồng Công phải liên tục đối phó với những hành động bạo lực do những kẻ quá khích gây ra. Những cuộc biểu tình bạo loạn này đã làm 5 người thiệt mạng, 230 người khác bị thương; làm tê liệt hệ thống giao thông công cộng của Hồng Công và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đặc khu hành chính này.

“Quả bom nổ chậm Hồng Công” theo mô hình “Nhất quốc lưỡng chế” còn phát huy tác hại của nó về chính trị nội bộ, tạo cơ hội cho nước ngoài can thiệp vào nội bộ Trung Quốc. Mới đây, những thế lực chống đối chính phủ Trung Quốc đã ra yêu sách đòi Trung Quốc áp dụng quy chế “nhất quốc lưỡng chế” cho các khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, nơi đã từng nổ ra nhiều cuộc bạo loạn có vũ trang chống chính quyền Trung Quốc, đòi ly khai khỏi Trung Quốc. “Nhất quốc lưỡng chế” quả là lợi bất cập hại.

Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng.

Lẽ ra trong hoàn cảnh nội trị có nhiều sự cố như vậy thì những nhà lãnh đạo của bất cứ một quốc gia nào đều phải khôn khéo tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với chính quyền nhằm cô lập các phần tử phản loạn, lập lại trật tự xã hội, củng cố an ninh quốc gia thì Trung Quốc lại không làm như vậy.

Những người chủ trương điều động nhóm tàu Haiyang Dizhi 8 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã không nhận thức được rằng hành động của họ càng làm suy yếu uy tín của chính quyền Trung Quốc, đồng thời làm suy giảm vị thế của Trung Quốc trong các hoạt động đối ngoại, làm giảm sút lòng tin của các đối tác của Trung Quốc.

Rõ ràng đó tiếp tục là cái sự lợi bất cập hại khi Trung Quốc định “chuyển lửa ra bên ngoài” nhằm rảnh tay giải quyết các vấn đề mâu thuẫn bên trong xã hội và chính trường Trung Quốc.

Một điều quan trọng khác cần phải được nhắc lại là trong thời đại hiện nay, bạo lực vũ trang không còn là phương sách trọng yếu duy nhất để khẳng định vị thế của một quốc gia.

Trong một thế giới mà lợi ích kinh tế trở thành lợi ích cốt lõi thì những sự vận dụng các quy luật, các thủ đoạn kinh tế để thu được lợi nhuận cao mới là phương sách trọng yếu đế nâng cao vị thế của một quốc gia.

Mặc dù các lĩnh vực quốc phòng và an ninh để bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ vẫn được coi trọng nhưng nó chỉ phát huy tác dụng tích cực trong trường hợp buộc phải phòng thủ để tự vệ chứ không phải bằng các biện pháp tấn công quân sự hoặc đe dọa sử dụng bạo lực quân sự trong quan hệ đối ngoại.

Rõ ràng là chính người Trung Quốc đã nghĩ ra và chấp nhận phương sách “nhất quốc lưỡng chế” đối với Hồng Công và Macau; cũng chính người Trung Quốc đã duy trì các khu vực tự trị Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, Choang từ ngày lập quốc đến nay thì người Trung Quốc phải chịu trách nhiệm quản lý những thực thể chính trị xã hội đó cũng như chịu trách nhiệm do những hậu quả quản lý lỏng lẻo đem lại.

Cho dù các cuộc biến loạn chính trị xã hội, kể cả bạo loạn vũ trang luôn có cả nguyên nhân bên trong lẫn nguyên nhân bên ngoài thì nguyên nhân bên trong vẫn là nguyên nhân quyết định, nguyên nhân bên ngoài chỉ là nguyên nhân tác động. Đây là bài học vỡ lòng về quản lý tổ chức mà hầu như tất cả các ông chủ công ty lớn hay nhỏ cũng đều đã học được.

2- “Vành đai” sẽ “trắc trở” và “Con đường” sẽ “chông gai” nếu Trung Quốc không thực tâm hợp tác trên cơ sở chia sẻ lợi ích một cách công bằng.

Trên trường quốc tế, có nhiều nước quan tâm đến chính sách “Vành đai-Con đường” được Chủ tịch Tập Cận Bình đề xuất vào năm 2013. Nhưng những sự quan tâm ấy có nhiều động cơ khác nhau. Có nước như Mỹ không muốn Trung Quốc triển khai chính sách này bởi nó đe dọa lợi ích toàn cầu của Mỹ. Cũng có nước không đồng tình bởi chính sách ấy có thể làm cho quốc gia đối địch với họ mạnh hơn lên. Nhưng cũng có không ít nước ủng hộ khi xét thấy nó có khả năng đem lại lợi ích cho mình.

Tuy nhiên, qua 5 năm triển khai, bên cạnh những điểm tích cực, việc thực hiện chính sách “Vành đai-Con đường” của Trung Quốc đã bộc lộ một số điểm bất cập lớn mà những bất cập ấy hầu hết có liên quan tới chính Trung Quốc, nước đã đề ra chính sách đó.

Trước hết, trong nội bộ những nước tham gia các dự án của “Vành đai-Con đường” đã xuất hiện những trở ngại không nhỏ do ý đồ riêng của Trung Quốc. Tham vọng của Trung Quốc trong chiến lược “vành đai-Con đường” ngày càng bị hạn chế bởi các phương pháp tiếp cận và mục tiêu chiến lược riêng của chính Trung Quốc.

Mặc dù “Vành đai-Con đường” đã đạt được thành công lớn ở các nước đang phát triển, nhưng những thách thức về khả năng tài chính và sự bất ổn chính trị ở các nước tiếp nhận đầu tư từ Trung Quốc đã nhiều lần gây ra sự chậm trễ, thậm chí là việc hủy bỏ toàn bộ hoặc một phần các khoản đầu tư như một số dự án giao thông và năng lượng ở Kazakhstan, Banglades, Myanma, Pakistan và mới đây là Malaysia.

Bên cạnh đó, tình trạng tham nhũng và bất ổn chính trị tại một số quốc gia tham gia “Vành đai-Con đường” không chỉ khiến các dự án thuộc chính sách này bị chậm trễ mà có nhiều nguy cơ bị đem ra xét lại. Trong trường hợp đó, chính Trung Quốc sẽ phải gánh chịu những khoản nợ do những biến động nói trên gây ra.

Sở dĩ có tình trạng bấp bênh ấy là do sự “nhiệt tình quá mức cần thiết” của Trung Quốc nhằm lôi kéo các nước đã tạo cho các nước này những lợi thế khi họ cố giành thêm các khoản đầu tư từ chính các đối thủ của Trung Quốc, hay nói cách khác là “bắt cá hai tay”.

Các nước Thailand, Indonesia, và một số nước Đông Nam Á có thể khuyến khích Nhật Bản và Ấn Độ cạnh tranh với Trung Quốc trong các dự án đường sắt và thủy điện.v.v… Và cả Nhật Bản và Ấn Độ chắc chắn sẽ đều sẵn sàng đáp ứng với mục tiêu ngăn cản Trung Quốc trở thành nước có ảnh hưởng nhất trong khu vực.

Đối phó với tình hình này, Trung Quốc buộc phải đưa ra điều kiện “chỉ nhìn về một phía”. Điều này rõ ràng là sự vi phạm nguyên tắc tôn trọng sự độc lập của đối tác một cách thô thiển và đương nhiên là không thể được chấp nhận.

Hai là vấn đề “Ngoại giao bẫy nợ” mà tác giả của chiêu trò này cũng chính là Trung Quốc. Nếu như vào những năm 1950, nước Mỹ thực hiện “Kế hoạch Marshall” bằng các khoản viện trợ không hoàn lại vào Tây Âu với danh nghĩa bề ngoài là giúp Châu Âu phục hưng nhưng thực chất bên trong là tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, đẩy lùi ảnh hưởng chủ nghĩa xã hội ở Châu Âu thì Trung Quốc lại dùng những biện pháp khác với mục tiêu là tranh giành ảnh hưởng với Mỹ.

Điểm khác lớn nhất về chủ trương của Trung Quốc trong chính sách “Vành đai-Con đường” là đẩy mạnh đầu tư vào kết cấu hạ tầng của các đối tác bằng các khoản cho vay và đầu tư trực tiếp FDI chứ không phải là viện trợ không hoàn lại hoặc viện trợ chính phủ ODA.

Đối tác của Trung Quốc trong chính sách “Vành đai-Con đường” không phải là tất cả những nước nghèo, cận nghèo hay đang phát triển trong khu vực mà trước hết là các nước có nền kinh tế yếu cũng như năng lực quản lý kém hiệu quả. Đây là những nước nhiệt thành hưởng ứng nhất đối với chính sách “Vành đai – Con đường”.

Đơn giản là vì những nước này thiếu hệ thống kết cấu hạ tầng nên mong muốn tránh các khoản hỗ trợ tài chính gắn với nhiều yêu cầu, ràng buộc về chính trị của Mỹ và phương Tây. Do đó, Trung Quốc luôn đề cao cách tiếp cận nhấn mạnh vào việc không can thiệp và nói chung là vô điều kiện, không phân biệt chế độ chính trị.

Nhờ vậy mà khả năng tiếp cận của Trung Quốc được nâng lên do nhận được nhiều thiện chí hơn so với Mỹ và phương Tây.

Bản đồ tổng thể chiến lược “Vành đai – Con đường” của Trung Quốc

Với phương pháp tiếp cận ấy, Trung Quốc hy vọng có thể lôi kéo những quốc gia nhỏ hơn này vào khuôn khổ “Vành đai-Con đường”, qua đó tận dụng các vị trí chiến lược của họ và cân bằng quyền lực với các nước lớn trong khu vực như Nga, Ấn Độ và Liên minh châu Âu (EU).

Tuy nhiên, việc sử dụng những khoản cho vay trong các dự án chiến lược quan trọng cũng sẽ làm gia tăng mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc. Đó là lý do làm cho các nước tham gia “Vành đai-Con đường” lo lắng về khả năng phát sinh những “cái bẫy nợ”.

Và từ những “cái bẫy nợ” ấy, Trung Quốc có thể nắm giữ quyền kiểm soát quá mức đối với nền kinh tế của đất nước họ, bất kể chế độ chính trị của họ như thế nào. Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng “Vành đai-Con đường” mang đậm nét của chính sách “Mèo đen-Mèo trắng” mà Đặng Tiểu Bình đã đề ra từ 40 năm trước, nay được mở rộng ra ngoài biên giới Trung Quốc.

Trên thực tế, Sri Lanka và Pakistan đều đang đối mặt với việc trả nợ và các cuộc đàm phán tài chính đã phải ký kết các thỏa thuận cho thuê đất “làm tài sản bảo đảm nợ” với các công ty của Trung Quốc.

Tại Sri Lanka, cảng Hambantota hiện đã được cho Trung Quốc thuê trong 99 năm. Còn các khu vực xung quanh cảng Goahda của Pakistan đã được cho Trung Quốc thuê trong 43 năm.

Đối với các nước khác có nợ nước ngoài cao hoặc phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư trực tiếp, Trung Quốc đã sử dụng hình thức giảm nợ hoặc các hình thức hỗ trợ khác như ký kết các hợp đồng dài hạn về việc mua bán tài nguyên thiên nhiên hoặc dầu mỏ để bù đắp cho các khoản vay.

Từ thực tế đó, có thể thấy rõ rằng Trung Quốc sẽ sử dụng lợi thế tài chính của mình tại các cảng nước sâu chiến lược ở các nước này để giành lợi thế trong các tuyến vận tải biển ở Ấn Độ Dương.

Điểm yếu thứ ba của “Vành đai-Con đường” là chính sự “nhiệt thành thái quá” của Trung Quốc đã tạo ra sự nghi ngại của các cường quốc kinh tế cũng như các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á, Đông Á, Trung Á, Đông Âu và Trung Âu về một mục tiêu còn xa hơn và lớn hơn của Trung Quốc so với mục tiêu thúc đẩy hội nhập Á – Âu mà Trung Quốc công bố.

Mặc dù có khả năng chia sẻ lợi ích cùng với Trung Quốc khi tham gia vào “Vành đai-Con đường” nhưng những quốc gia này vẫn hoài nghi rằng đó là phương tiện để Trung Quốc tăng cường khả năng cạnh tranh của mình và là “chương trình nghị sự” để Trung Quốc mở rộng phạm vi ảnh hưởng chiến lược trên toàn cầu hơn là việc chia sẻ lợi ích với các đối tác.

Tại châu Âu, các thành viên chủ chốt của EU, như Đức và Pháp cũng nhận thấy việc triển khai các dự án trong khuôn khổ “Vành đai – Con đường” ở Trung và Đông Âu mang mục đích cạnh tranh nhiều hơn là mục đích hợp tác. Các nước này coi “Vành đai – Con đường” như là một nỗ lực của Trung Quốc làm lu mờ những quy tắc và chương trình nghị sự của EU.

Đại sứ của 27 nước EU tại Trung Quốc đã ký vào văn bản phản đối dự án kết cấu hạ tầng quy mô lớn này trong khi lo lắng về ảnh hưởng của Trung Quốc ngày một gia tăng. Điều này dẫn đến việc các hoạt động đầu tư hay các dự án của Trung Quốc ở Trung Âu và Đông Âu đã bị chỉ trích và thậm chí còn bị tăng cường giám sát.

Dự án đầu tiên bị rơi vào “tầm ngắm” của EU là dự án đường sắt nối Budapest (Hungary) với Belgrad (Serbia) là một phần quan trọng trong chiến lược của Trung Quốc nhằm tạo sự liên kết giữa Trung Âu với cảng Piraus của Hy Lạp trên bờ biển Địa Trung Hải, tạo một đầu cầu xâm nhập qua bán đảo Balkan.

Trong khi đó thì Mỹ, đối trọng toàn cầu lớn nhất của Trung Quốc đã sớm nhận thấy rằng chỉ “chuyển trọng tâm chiến lược sang Châu Á – Thái Bình Dương” là không đủ mà cần phải mở rộng hơn nữa sự kiềm tỏa đối với Trung Quốc.

Và thế là sáng kiến “Tầm nhìn Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” (Indo-Pacific Economic Vision) hay còn được gọi là “Học thuyết kinh tế liên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” được Mỹ khởi xướng với tham vọng vừa củng cố chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của mình ở khía cạnh kinh tế, vừa gia tăng ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này làm đối trọng với chiến lược “Vành đai – Con đường” của Trung Quốc.

Đòn phản kích đầu tiên đối với “Vành đai-Con đường” của Mỹ chính là cuộc “Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung” do Mỹ “khai hỏa” hồi tháng 7-2018 với sự leo thang các biện pháp áp đặt thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Đây chính là điều làm cho Trung Quốc bị bất ngờ và buộc phải sử dụng đến ngón đòn mạo hiểm là phá giá đồng Nhân dân tệ ngay sau khi Cơ quan dự trữ liên bang Mỹ (FED) hạ lãi suất đồng Dollar Mỹ

3- Một cường quốc thực thụ cần phải đối xử bình đẳng và có trách nhiệm với các đối tác.

Từ những thực tế trên đây, có thể thấy rằng chiến lược “Vành đai – Con đường” của Trung Quốc chỉ có thể thu được kết quả khả quan nếu như Trung Quốc thực tâm hợp tác và chia sẻ lợi ích một cách công bằng, đối xử với các đối tác một cách bình đẳng; đồng thời từ bỏ những mưu toan gây áp lực chính trị, từ bỏ việc áp đặt ý chí và điều kiện cũng như từ bỏ các động thái đe dọa chủ quyền, độc lập và tự chủ của các đối tác mà Trung Quốc đặt quan hệ.

Bên cạnh đó, với sáng kiến “Vành đai – Con đường”, Trung Quốc đang muốn “Tây tiến” để đối phó với sự kiềm tỏa của Mỹ từ hướng Thái Bình Dương nhưng cũng gặp phải không ít trở ngại.

Tuy nhiên, bên cạnh những trở ngại đương nhiên do Mỹ, đối thủ toàn cầu của Trung Quốc gây ra, người ta cũng nhận thấy rõ những trở ngại có nguyên nhân từ chính người Trung Quốc.

Điểm đầu tiên chính là “tư tưởng nước lớn”, “tư tưởng Đại Hán” (và cả những Đại Tần, Đại Đường, Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh, Đại Thanh) đã ăn sâu trong tiềm thức của người trung Quốc, đặc biệt là “giới tinh hoa” Trung Quốc, bất kể là cộng sản hay không cộng sản.

Tư tưởng này được biểu hiện ra bằng những hành động thiếu tôn trọng đối tác, coi thường nước nhỏ, dùng mọi biện pháp để thủ lợi, tham bát bỏ mâm, thiếu trách nhiệm khi giải quyết các vấn đề quốc tế có liên quan đến mình.

Trong đó, điển hình nhất là việc Trung Quốc, mặc dù là một bên tham gia Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 (UNCLOS-1982) nhưng lại hành động đi ngược lại các quy định của công ước đó cũng như bất chấp các phán quyết dựa trên UNCLOS-1982 của Tòa trọng tài quốc tế PCA để khư khư bám lấy những lập luận vô lý về “vùng nước lịch sử” ở Biển Đông.

Bên cạnh đó, những dự án làm ăn của Trung Quốc với các đối tác thường mắc căn bệnh “đội vốn” và “phát sinh” mà chỉ một dự án nhỏ như tuyến đường sắt đô thị trên cao Cát Linh – Hà Đông tại Hà Nội cũng có thể đủ để chứng minh sự thiếu trách nhiệm của phía Trung Quốc.

Sở dĩ có điều đó trước hết là về mặt kỹ thuật đấu thầu, Trung Quốc đã khai thác tâm lý hám rẻ của các đối tác mà phần lớn trong số đó là nghèo và cận nghèo để giảm trị giá đấu thầu xuống mức thấp nhất.

Để rồi sau đó, khi đối tác đã ở vào tình trạng “trở đi mắc núi, trở lại mắc sông” hay “bỏ thì thương, vương thì tội”, người Trung Quốc mới giở chiêu bài “phát sinh hạng mục”, “phát sinh trượt giá”.v.v… làm cho số vốn thiếu hụt phải bù đắp tăng lên ngang bằng, thậm chí là vượt lên trên toàn bộ tổng vốn dự kiến ban đầu. Chiêu trò này của Trung Quốc rất dễ nhận thấy nhưng nhiều đối tác cũng dễ bị vướng vào.

Tuy nhiên, chỉ cần một lần như vậy, các đối tác sẽ “chào thua” Trung Quốc để đi tìm một đối tác khác có truyền thống làm ăn “đứng đắn” hơn, cho dù trị giá vốn đầu tư có cao hơn Trung Quốc.

Đó mới chỉ là những vấn đề kỹ thuật đơn giản trong đầu tư và phát triển nhưng nó cũng đủ khiến cho các đối tác nghi ngại Trung Quốc và sự nghi ngại đó là có sơ sở.

Gần đây, trong quá trình đàm phán về vấn đề chủ quyền của các quốc gia trên Biển Đông, Trung Quốc đã đưa ra hai điều kiện rất khó nghe.

Một là yêu cầu các điều khoản của Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông phải quy định ngăn cấm các nước ngoài Biển Đông không được can dự vào vấn đề Biển Đông, rằng vấn đề Biển Đông phải do các nước tiếp giáp Biển Đông tự giải quyết với nhau. Về việc này, không ai là không biết việc Trung Quốc bố trí tại Biển Đông Hạm đội Nam Hải là hạm đội mạnh nhất của Trung Quốc với trên 500 tàu ngầm và tàu chiến các loại có mớn nước từ 500 tấn trở lên và hàng trăm tàu bán vũ trang khác. Không có một quốc gia nào ở Đông Nam Á có được một lực lượng lớn như vậy.

Hai là trong hợp tác khai thác các nguồn lợi kinh tế ở Biển Đông, các nước tiếp giáp Biển Đông chỉ được hợp tác với Trung Quốc và hợp tác giữa các nước có chung Biển Đông với nhau, không được hợp tác với các quốc gia ngoài Biển Đông. Đây thực sự là một thái độ trắng trợn của Trung Quốc coi thường chủ quyền về quan hệ đối ngoại của các nước khác, đi ngược lại hoàn toàn các quy định của công pháp quốc tế, thể hiện thái độ “bề trên” sai bảo “đồ đệ”, “thiên triều” ban lệnh “chư hầu”.

Chính vì những cách hành xử đó mà uy tín quốc tế của Trung Quốc bị suy giảm cho dù Trung Quốc có thi thố những chiêu trò gì đi nữa. Như người ta thường nói: “Một sự thất tín thì vạn sự bất tin”.

Với việc Trung Quốc lập các căn cứ quân sự đa năng trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; ở Bãi Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Biển Đông giống như thùng thuốc súng sẵn sàng phát nổ bất cứ lúc nào một khi bị châm ngòi.

Là một trong các quốc gia tiếp giáp với Biển Đông, Trung Quốc cần chứng tỏ mình là một cường quốc có trách nhiệm chứ không phải là một “đấu sĩ” chỉ biết sử dụng “cơ bắp” trong ứng xử ở Biển Đông.

Còn Việt Nam, rất có kinh nghiệm trong các tình huống “vừa đánh vừa đàm” và không chịu khuất phục trước bất cứ một sức ép nào, đang hành động tích cực bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình.

Tóm lại, muốn trở thành một “leader” (người dẫn dắt) thì trước hết phải là một đối tác bình đẳng, công bằng và có trách nhiệm. Vì vậy, Trung Quốc cần phải thay đổi chính sách ứng xử đối với Đông Nam Á nói riêng và các đối tác trên thế giới nói chung thì mới mong thu được sự tin cậy của các nước.

Ngược lại, những phương cách hành xử kiểu bá quyền sẽ làm cho cả thế giới xa lánh và Trung Quốc sẽ chuốc lấy kết quả thất bại chiến lược sẽ là điều tất yếu.

Người Việt Nam hy vọng chứ không hề ảo tưởng rằng Trung Quốc sẽ tự sửa đổi những căn tính xấu của mình trong một sớm một chiều. Hàng mấy nghìn năm nay sống bên cạnh Trung Quốc, người Việt Nam quá hiểu Trung Quốc như hiểu chính bản thân mình nên luôn có những đối sách hữu hiệu trước mọi chiêu trò của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo Nguyễn Minh Tâm